Người học tiếng Đức có thể nghe hiểu cả một đoạn hội thoại mà vẫn ghi sai một số điện thoại. Lý do không phải do nghe kém, mà vì người Đức đọc số và chữ cái theo những thói quen sách giáo trình ít khi dạy: đọc số theo cặp với hàng đơn vị đứng trước, đổi zwei thành zwo, đánh vần bằng tên người hoặc tên thành phố. Ai đã gọi tới phòng khám, cơ quan hay nhận cuộc gọi từ chủ nhà ở Đức đều từng ghi sai ít nhất một lần. Bài này chỉ ra từng chỗ dễ hụt và cách luyện tai để bắt được chúng.
Số theo cặp: nghe đơn vị trước, ghi hàng chục trước
Người Đức hay đọc số điện thoại thành từng cặp hai chữ số. Ví dụ dãy 23 47 18 sẽ được đọc là dreiundzwanzig, siebenundvierzig, achtzehn. Vì tiếng Đức đọc hàng đơn vị trước hàng chục, bạn nghe "ba" trước "hai mươi", nghe "bảy" trước "bốn mươi". Tai người Việt quen viết theo thứ tự nghe, nên rất dễ ghi thành 32 74.
Cách xử lý mà nhiều người làm việc ở Đức dùng: khi nghe chữ số đầu tiên, viết nó và chừa một ô trống bên trái. Nghe drei, viết _3. Nghe zwanzig, điền 2 vào ô trống. Thao tác này lúc đầu chậm, nhưng chỉ sau vài chục lần là thành phản xạ.
Không phải ai cũng đọc theo cặp. Có người đọc từng chữ số (zwei, drei, vier, sieben), có người tách mã vùng ra trước rồi mới đọc cặp. Nếu bạn không chắc, đừng đoán, hãy nhờ đọc từng chữ số: Könnten Sie die Nummer bitte einzeln sagen?
Số 0 ở đầu và mã vùng
Mã vùng và số di động ở Đức bắt đầu bằng số 0, đọc là null. Khi đọc mã vùng, người ta thường đọc từng chữ số: null-drei-null cho mã vùng Berlin. Phần sau mới chuyển sang cặp. Vì thế một số điện thoại có thể bắt đầu bằng chuỗi đọc rời rồi bất ngờ chuyển sang kiểu cặp ở giữa, đúng lúc tai bạn đã quen nhịp từng chữ số.
zwo: không phải lỗi phát âm
Zwei và drei có cùng vần -ei, qua điện thoại hay ở nơi ồn rất dễ nghe nhầm. Người Đức xử lý bằng cách nói zwo thay cho zwei. Bạn sẽ nghe thấy zwo trong cuộc gọi, ở quầy đọc số thứ tự, trong thông báo tàu (Gleis zwo), khi người ta đọc giờ (zwoundzwanzig Uhr, tức 22 giờ). Chữ này không có trong nhiều sách A1, nên lần đầu nghe người học thường tưởng là một con số lạ.
Bạn hoàn toàn có thể dùng zwo khi đọc số của mình qua điện thoại. Người nghe sẽ thấy bạn biết cách nói cho rõ chứ không thấy lạ.
Chữ cái tiếng Đức: những cặp tai người Việt dễ đổi chỗ
Tên chữ cái tiếng Đức gần cách đọc tiếng Việt hơn tiếng Anh, nhưng người đã học tiếng Anh thì lại bị tiếng Anh kéo ngược. Những cặp sau là nguồn lỗi chính:
| Chữ | Tên tiếng Đức | Bẫy |
|---|---|---|
| E | ê (eh) | Người quen tiếng Anh nghe "ê" mà nghĩ là A |
| I | i (ih) | Nghe giống tên chữ E trong tiếng Anh |
| A / H | a / ha | Qua điện thoại chỉ khác hơi thở đầu |
| J | giốt (jott) | Không phải "giây" như tiếng Anh |
| G | ghê (geh) | Dễ lẫn với J của tiếng Anh |
| V | phau (fau) | Nghe như F, vì V tiếng Đức thường đọc /f/ |
| W | vê (weh) | Nghe như V tiếng Việt |
| Y | úp-xi-lon (Ypsilon) | Rất dài, dễ tưởng là một từ |
| Z | txét (Zett) | Không phải "di" hay "zed" |
Cách phiên âm tiếng Việt trong bảng chỉ để gợi nhớ. Muốn chắc, hãy nghe bản đọc chuẩn và nhại lại. Riêng cặp V và W là chỗ hay sai nhất khi ghi email: người đọc nói "vê" và bạn viết V, trong khi đó là W.
Những từ đi kèm khi đánh vần
- Doppel-L hoặc zweimal L: hai chữ L liền nhau.
- U mit Punkten hoặc U-Umlaut: chữ ü. Có người nói Ü luôn.
- Eszett hoặc scharfes S: chữ ß.
- groß / klein: chữ hoa, chữ thường. alles klein là viết thường hết.
- Punkt (dấu chấm), Bindestrich (gạch nối), Unterstrich (gạch dưới), Schrägstrich (gạch chéo).
- at cho ký hiệu @, người lớn tuổi đôi khi gọi là Klammeraffe.
Bảng đánh vần: Anton, Berta hay Aachen, Berlin
Như tiếng Anh có Alpha, Bravo, tiếng Đức có bảng đánh vần riêng. Bảng truyền thống dùng tên người, và đây là bảng bạn nghe nhiều nhất ngoài đời:
A wie Anton, B wie Berta, C wie Cäsar, D wie Dora, E wie Emil, F wie Friedrich, G wie Gustav, H wie Heinrich, I wie Ida, J wie Julius, K wie Kaufmann, L wie Ludwig, M wie Martha, N wie Nordpol, O wie Otto, P wie Paula, Q wie Quelle, R wie Richard, S wie Samuel, T wie Theodor, U wie Ulrich, V wie Viktor, W wie Wilhelm, X wie Xanthippe, Y wie Ypsilon, Z wie Zacharias.
Ngoài ra có Ä wie Ärger, Ö wie Ökonom, Ü wie Übermut, Sch wie Schule. Vài năm gần đây có thêm một bảng chuẩn mới dùng tên thành phố: A wie Aachen, B wie Berlin, D wie Düsseldorf, H wie Hamburg, K wie Köln, M wie München... Người trẻ và các tổng đài có thể dùng bảng này. Bạn không cần thuộc cả hai, chỉ cần nhận ra kiểu câu X wie ... và lấy chữ cái đầu của từ đứng sau.
Thứ cần thuộc là cách tự đánh vần tên mình. Tên Việt có những tổ hợp người Đức không quen như Ng, Nh, Th, Tr. Hãy chuẩn bị sẵn: Nguyen: N wie Nordpol, G wie Gustav, U wie Ulrich, Y wie Ypsilon, E wie Emil, N wie Nordpol. Đọc trơn câu này năm lần trước cuộc gọi quan trọng sẽ đỡ cho bạn nhiều phút lúng túng.
Câu xin đọc lại và xác nhận
- Können Sie das bitte buchstabieren? Anh/chị đánh vần giúp được không?
- Wie schreibt man das? Từ đó viết thế nào?
- Noch einmal langsam, bitte. Xin đọc lại chậm.
- War das ein B wie Berta oder ein D wie Dora? Đó là B hay D?
- Ich wiederhole: null-eins-sieben-zwo... Tôi đọc lại nhé...
- Stimmt das so? Vậy đúng chưa?
Thói quen đọc lại số và tên ngay trong cuộc gọi là cách người làm nghề tự kiểm, không phải dấu hiệu nghe kém. Ở Đức, nhân viên tổng đài và lễ tân cũng làm đúng như vậy.
Luyện tai cho số và chữ cái
- Chép số theo cặp: nhờ bạn học hoặc dùng công cụ đọc số ngẫu nhiên, nghe dãy sáu chữ số đọc theo cặp và ghi lại bằng mẹo chừa ô trống. Mỗi ngày mười dãy.
- Chép email đánh vần: nghe một địa chỉ email được đánh vần và chép lại. Dạng này gom đủ chữ cái, dấu chấm, gạch nối, ký hiệu @.
- Nghe qua loa điện thoại: đặt điện thoại xa một chút trên bàn khi luyện, vì cuộc gọi thật không rõ như tai nghe.
- Tự đọc để tự nghe: ghi âm chính bạn đọc số điện thoại và tên mình, nghe lại xem chỗ nào bị nuốt.
Phần thi thử trên Ngôn Ngữ Đức có các đoạn nghe với lịch hẹn, số điện thoại và tên riêng, đúng loại thông tin hay bị nghe sai trong đề lẫn ngoài đời. Nếu người khác hay hỏi lại khi bạn đọc số, luyện thêm ở đọc theo mẫu để biết âm nào bạn đọc chưa rõ.
Thứ không cần làm: không cần thuộc lòng cả hai bảng đánh vần. Nghe hiểu kiểu wie + tên và tự đánh vần được tên mình, email mình là đủ dùng.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao người Đức nói zwo thay vì zwei?
Để tránh nhầm với drei khi nói qua điện thoại hay ở nơi ồn. Zwo vẫn là số 2, dùng phổ biến khi đọc số và giờ.
Nghe số điện thoại tiếng Đức theo cặp thế nào cho khỏi ghi ngược?
Khi nghe chữ số hàng đơn vị đầu tiên, viết nó và chừa một ô trống bên trái, nghe tới hàng chục thì điền vào ô trống đó.
Chữ V trong bảng chữ cái tiếng Đức đọc là gì?
Đọc là fau, nghe gần như phau. Còn chữ W đọc là weh, nghe như vê tiếng Việt, nên rất dễ đổi chỗ hai chữ này.
Đánh vần tiếng Đức A wie Anton là gì?
Là cách đánh vần bằng tên người để tránh nghe nhầm chữ cái, giống Alpha, Bravo trong tiếng Anh. Nay còn có bảng mới dùng tên thành phố như A wie Aachen.
Đánh vần họ Nguyễn bằng tiếng Đức thế nào?
Thường viết không dấu là Nguyen và đánh vần N wie Nordpol, G wie Gustav, U wie Ulrich, Y wie Ypsilon, E wie Emil, N wie Nordpol.